Phẫu thuật tuyến giáp bằng kỹ thuật nội soi: một số nhận xét về kỹ thuật và chỉ định mổ
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Phẫu thuật tuyến giáp bằng phương pháp mổ mở hiện tại ở Việt Nam được thực hiện rộng rãi tại các bệnh viện với rất ít những biến chứng trong và sau mổ, đặc biệt những tai biến đối với tuyến cận giáp và dây thần kinh quặt ngược. Mục đích: Xem xét lại chỉ định, kỹ thuật và kết quả ban đầu của phương pháp phẫu thuật này đối với tuyến giáp. Đối tượng và phương pháp: Sử dụng phương pháp lâm sàng, cận lâm sàng và mổ trên những bệnh nhân bị bệnh tuyến giáp đã được chẩn đoán và có chỉ định mổ tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương từ 2/5/2003 đến 30/6/2004. Kết quả: Độ lớn của bướu khám lâm sàng: bướu độ Ia có 25 bệnh nhân, bướu độ Ib có 134 bệnh nhân, bướu độ II có 14 bệnh nhân. Kích thước bướu đo trên siêu âm: đường kính lớn nhất đo được là 5,6cm; nhỏ nhất 1,0 cm; trung bình 2,67cm. Thể tích tuyến giáp trong bệnh nhân Basedow: thể tích lớn nhất là 46,7cm3; nhỏ nhất 16,1cm3. Nồng độ hormon trong máu: FT4(pmol/l): cao nhất 21,3, thấp nhất: 7,9; TSH(mU/l): cao nhất: 0,03, thấp nhất: 8,2, trung bình: 1,3. Đường vào là đường thành trước ngực: 133 bệnh nhân (76,9%); đường nách: 40 bệnh nhân (23,1%). Thời gian mổ nhanh nhất là 45 phút, lâu nhất 360 phút; lượng máu mất trong khi mổ nhiều nhất là 500ml, ít nhất là 0. Kết quả mô bệnh học: bướu nhân 68,2%; u tuyến 14,5%; carcinoma 5,8%; Basedow 11,6%. Kết quả mổ: rất tốt chiếm 95,4%, tốt chiếm 1,7%, trung bình chiếm 2,9% và không có trường hợp xấu. Kết luận: Kỹ thuật nội soi có thể áp dụng để phẫu thuật tuyến giáp an toàn, hiệu quả, có tính thẩm mỹ cao; tuy nhiên bệnh nhân cần được lựa chọn và chuẩn bị kỹ.

Vị trí tài liệu

Trung tâm Tích hợp dữ liệu

CỤC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, BỘ Y TẾ

Ngõ 135 Núi Trúc, Ba Ðình, Hà Nội

Điện thoại: 04.3736.8315 (máy lẻ 12); Fax: 04.3736.8319

Email: hungnb.cntt@moh.gov.vn     Website: yte.gov.vn